Chương trình giám sát thuỷ sản nhập khẩu (Seafood Import Monitoring Program, SIMP) do Cơ quan Nghề cá biển quốc gia Mỹ (NOAA Fisheries) quản lý, áp dụng từ năm 2018 cho một số nhóm loài được coi là có nguy cơ cao về khai thác bất hợp pháp hoặc gian lận tên loài. Với các loài này, nhà nhập khẩu Mỹ phải khai dữ liệu về nơi và cách thuỷ sản được khai thác hoặc nuôi khi nhập hàng, và lưu hồ sơ chuỗi giao nhận từ lúc khai thác đến lúc vào Mỹ.
Người chịu nghĩa vụ pháp lý là nhà nhập khẩu Mỹ, nhưng toàn bộ dữ liệu lại nằm ở phía Việt Nam: ở tàu cá, cảng cá, ao nuôi, nậu vựa và nhà máy. Nếu bạn không cung cấp được, khách Mỹ không nhập được, hoặc nhập rồi bị kiểm tra mà không chứng minh được. Bài này nói rõ dữ liệu nào cần, khó ở đâu, và cách tổ chức để trả lời nhanh. Danh sách loài và yêu cầu có thể được NOAA mở rộng hoặc điều chỉnh, nên kiểm thông tin hiện hành trước mỗi mùa.
Những loài nằm trong chương trình và vì sao Việt Nam liên quan nhiều
Danh sách loài của SIMP gồm một số nhóm như cá ngừ (các loài cá ngừ thương mại chính), cá kiếm, cá nục heo cờ, cá mú, cá hồng, cua, tôm, hải sâm, bào ngư, cá mập, cá tuyết và một số loài khác. Tôm và bào ngư được đưa vào sau, từ cuối năm 2018. Danh sách chính xác, kể cả mã hàng hoá tương ứng, được NOAA công bố và có thể thay đổi, nên kiểm trước khi chào hàng một loài mới.
Việt Nam xuất sang Mỹ nhiều tôm, cá ngừ, cá nục heo cờ, và một phần cá kiếm, cá mú, cua ghẹ. Vì vậy phần lớn doanh nghiệp thuỷ sản xuất khẩu sang Mỹ đều chạm tới chương trình này ở ít nhất một sản phẩm. Cá tra không nằm trong danh sách SIMP, nhưng lại chịu chương trình thanh tra riêng của Bộ Nông nghiệp Mỹ đối với cá da trơn; đó là chuyện khác, không bàn ở đây.
Khác với chứng nhận khai thác của EU, SIMP không đòi một chứng nhận do cơ quan nhà nước nước khai thác cấp cho mỗi lô. Thay vào đó, nhà nhập khẩu tự khai dữ liệu và tự lưu hồ sơ, chịu kiểm tra hậu kiểm. Điều này nghe nhẹ hơn, nhưng thực tế đòi chuỗi phía Việt Nam phải tự giữ dữ liệu chính xác, vì không có một tờ xác nhận nhà nước nào để dựa vào.
Dữ liệu cần cung cấp cho khách Mỹ theo loại nguồn
Bảng dưới tóm dữ liệu chính theo cách hiểu phổ biến của chương trình. Biểu mẫu và trường dữ liệu chi tiết do NOAA quy định; khách Mỹ thường gửi mẫu riêng cho nhà cung cấp.
| Loại nguồn | Dữ liệu khai thác hoặc nuôi | Dữ liệu chuỗi giao nhận | Nơi dữ liệu thường nằm ở Việt Nam |
|---|---|---|---|
| Thuỷ sản khai thác | Tên và cờ tàu, số đăng ký, vùng khai thác, loại ngư cụ, ngày và nơi cập cảng, loài, khối lượng | Các bên nhận hàng từ khi cập cảng tới khi xuất khẩu | Nhật ký khai thác, giấy biên nhận cảng, phiếu nhập nhà máy |
| Thuỷ sản khai thác bởi tàu nhỏ | Có thể khai gộp theo nhóm tàu và điểm thu gom trong một số trường hợp | Như trên | Sổ thu gom của nậu vựa, điểm cân |
| Thuỷ sản nuôi | Tên và địa chỉ trại nuôi hoặc cơ sở nuôi, loài, ngày thu hoạch, khối lượng | Các bên nhận hàng từ khi thu hoạch tới khi xuất khẩu | Hồ sơ đăng ký cơ sở nuôi, nhật ký ao, phiếu cân khi thu hoạch |
| Hàng gom nhiều nguồn | Dữ liệu của mọi nguồn đóng góp vào lô | Chuỗi riêng cho từng nguồn | Phiếu nhập theo nguồn, bảng phân bổ nguyên liệu vào lô |
Chỗ khó với Việt Nam nằm ở dòng thứ hai và dòng cuối: tàu nhỏ đánh bắt gần bờ giao cho nậu, và lô thành phẩm gom nguyên liệu từ hàng chục nguồn. Dữ liệu ở đó thường có nhưng rời rạc.
Tôm nuôi: dữ liệu ao nuôi và những chỗ hay đứt
Đăng ký cơ sở nuôi là điểm xuất phát. Khách Mỹ cần tên và vị trí của trại nuôi. Với hộ nuôi tôm nhỏ ở Cà Mau, An Giang hay Vĩnh Long, giấy tờ đăng ký cơ sở nuôi theo quy định thuỷ sản là thứ chứng minh rõ nhất. Hộ chưa đăng ký sẽ là điểm yếu khi khách kiểm tra.
Phiếu cân khi thu hoạch phải gắn với ao. Thương lái thu mua tôm thường cân tại bờ ao rồi gom nhiều ao vào một xe. Nếu phiếu cân chỉ ghi tên chủ hộ mà không ghi ao, mà chủ hộ có nhiều ao ở nhiều nơi, dữ liệu trại nuôi trở nên mơ hồ.
Đại lý thu mua và vựa là mắt xích ít giấy tờ nhất. Tôm có thể đi qua một, hai tầng trung gian trước khi tới nhà máy. Mỗi tầng cần ghi tôm của ai, ao nào, ngày nào, giao cho ai. Nhà máy nên chỉ nhận tôm cho dòng hàng Mỹ từ trung gian có sổ ghi chép đạt yêu cầu.
Ngày thu hoạch và ngày nhập nhà máy phải hợp lý. Tôm tươi không thể nằm ở vựa nhiều ngày. Khoảng cách bất thường giữa ngày thu hoạch và ngày nhập nhà máy là dấu hiệu dữ liệu bị điền sau.
Phân bổ nguyên liệu vào lô thành phẩm. Một ca chế biến có thể dùng tôm của mười ao. Nhà máy cần ghi được lô thành phẩm nào dùng tôm của những ao nào, khối lượng bao nhiêu, để khi khách hỏi một lô cụ thể có thể trả lời ngay.
Cá ngừ, cá nục heo cờ và hàng khai thác từ tàu Việt Nam
Với hàng khai thác, dữ liệu phụ thuộc vào kỷ luật ghi chép trên tàu và ở cảng cá. Một số điểm cần chú ý:
- Nhật ký khai thác ghi đúng vùng, ngày, loài, khối lượng ước tính; dữ liệu giám sát hành trình của tàu phải khớp với vùng khai báo.
- Giấy biên nhận bốc dỡ ở cảng cá ghi khối lượng thực tế theo loài; tên loài nên chuẩn hoá theo tên thương mại và tên khoa học, không dùng tên địa phương.
- Loại ngư cụ (câu tay, câu vàng, lưới vây, lưới rê…) phải ghi đúng, vì đây là một trường dữ liệu khách Mỹ khai.
- Hàng nhập khẩu nguyên liệu từ nước khác để chế biến tại Việt Nam rồi xuất sang Mỹ: dữ liệu khai thác là của tàu nước ngoài; nhà máy phải nhận đủ dữ liệu từ nhà cung cấp nước ngoài.
- Với cá ngừ, Mỹ còn có các yêu cầu liên quan đến bảo vệ cá heo và thú biển; kiểm riêng với khách, vì chúng nằm ngoài SIMP.
- Lưu bản sao toàn bộ chứng từ theo lô, vì khách Mỹ có nghĩa vụ lưu hồ sơ trong thời hạn nhất định và có thể hỏi lại bạn khi bị kiểm tra.
Phần lớn các trường dữ liệu này cũng xuất hiện trong hồ sơ xác nhận nguyên liệu, chứng nhận khai thác cho thị trường khác. Thu một lần, dùng cho nhiều thị trường, là cách tiết kiệm công nhất.
Dựng gói dữ liệu SIMP cho mỗi lô xuất
Với mỗi lô thuộc loài trong chương trình, chuẩn bị một gói dữ liệu gửi khách trước khi hàng lên tàu:
- Xác định lô có chứa loài thuộc SIMP hay không, theo danh sách loài và mã hàng hoá hiện hành.
- Liệt kê mọi nguồn nguyên liệu của lô: tàu hoặc ao, ngày khai thác hoặc thu hoạch, khối lượng đóng góp.
- Với mỗi nguồn, điền đủ trường dữ liệu theo mẫu khách gửi; trường nào không có dữ liệu thì ghi rõ, không để trống.
- Đính kèm bản chụp chứng từ gốc: nhật ký, giấy biên nhận cảng, giấy đăng ký cơ sở nuôi, phiếu cân, phiếu nhập.
- Mô tả chuỗi giao nhận: từ tàu hoặc ao qua những ai tới nhà máy, mỗi bên giữ chứng từ gì.
- Người phụ trách kiểm tra chéo: tổng khối lượng nguồn quy đổi phải hợp lý với khối lượng thành phẩm.
- Gửi khách, lưu bản gửi kèm ngày gửi, và ghi người liên hệ trả lời câu hỏi bổ sung.
Gói dữ liệu gửi trước khi hàng đi giúp khách khai đúng ngay lần đầu, giảm rủi ro lô hàng bị giữ tại cảng Mỹ để làm rõ. Nếu khách dùng phần mềm hoặc cổng nhà cung cấp riêng, hãy hỏi họ có cho xuất lại dữ liệu đã nhập không, để bạn giữ được một bản cho mình.
Khi khách bị NOAA kiểm tra hậu kiểm
NOAA có thể chọn kiểm tra một số lô nhập khẩu, yêu cầu nhà nhập khẩu xuất trình hồ sơ chuỗi giao nhận. Khi đó khách Mỹ sẽ quay lại hỏi bạn, có khi là một lô đã xuất từ nhiều tháng trước. Nếu hồ sơ không đủ, hậu quả trước hết rơi vào khách, nhưng quan hệ thương mại của bạn với khách sẽ chịu ảnh hưởng ngay.
Vì vậy thời hạn lưu hồ sơ ở phía bạn ít nhất nên bằng thời hạn khách phải lưu, và nên lưu dạng dễ tìm theo mã lô. Một tủ hồ sơ xếp theo ngày nhập nguyên liệu sẽ khiến việc tìm một lô xuất cũ mất cả ngày; một thư mục điện tử đặt tên theo mã lô xuất, bên trong có đủ chứng từ nguồn, chỉ mất vài phút.
Một thói quen tốt là sau mỗi lần khách hỏi, dù chỉ là câu hỏi nhỏ, ghi lại câu hỏi, câu trả lời và chứng từ đã gửi vào thư mục của lô. Sau một năm, bạn sẽ có một bộ ghi chép cho thấy loại câu hỏi nào hay gặp, chỗ nào trong chuỗi hay thiếu dữ liệu, và đó là căn cứ để quyết định nên đầu tư sửa sổ sách ở khâu nào trước. Doanh nghiệp làm được việc này thường được khách Mỹ ưu tiên giữ lại khi họ phải thu hẹp danh sách nhà cung cấp.
Khi trả lời, chỉ gửi những gì là thật. Nếu có chứng từ thiếu, hãy nói rõ thiếu gì và vì sao, thay vì dựng lại giấy tờ sau. Chứng từ lập lại sau khi bị hỏi rất dễ bị phát hiện qua ngày tháng và chữ ký, và hậu quả của việc đó nặng hơn nhiều so với việc thừa nhận thiếu một tờ giấy.
Câu hỏi thường gặp
Cá tra xuất sang Mỹ có thuộc SIMP không?
Không. Cá tra không nằm trong danh sách loài của SIMP, nhưng chịu chương trình thanh tra cá da trơn của Bộ Nông nghiệp Mỹ, với yêu cầu riêng về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tương đương. Hai chương trình khác nhau, cần chuẩn bị hồ sơ riêng.
Ai chịu trách nhiệm pháp lý theo SIMP, nhà xuất khẩu Việt Nam hay nhà nhập khẩu Mỹ?
Nghĩa vụ khai báo và lưu hồ sơ thuộc về nhà nhập khẩu Mỹ, người phải có giấy phép thương mại thuỷ sản quốc tế. Nhà xuất khẩu Việt Nam không chịu nghĩa vụ trực tiếp với NOAA, nhưng phải cung cấp dữ liệu để khách tuân thủ.
Tôm nuôi của hộ nhỏ chưa đăng ký cơ sở nuôi có xuất sang Mỹ được không?
Rủi ro cao. Khách Mỹ cần tên và vị trí trại nuôi, và giấy đăng ký cơ sở nuôi là bằng chứng rõ nhất. Hộ chưa đăng ký nên làm thủ tục theo quy định thuỷ sản hiện hành tại địa phương trước khi đưa tôm vào dòng hàng xuất khẩu sang Mỹ.
SIMP có đòi chứng nhận khai thác của nhà nước như EU không?
Không theo cách giống EU. SIMP dựa trên dữ liệu nhà nhập khẩu khai và hồ sơ họ lưu, không đòi chứng nhận nhà nước xác nhận cho từng lô. Tuy vậy chứng từ gốc như nhật ký khai thác, giấy biên nhận cảng vẫn là bằng chứng chính khi bị kiểm tra.
Danh sách loài SIMP có thay đổi không?
Có thể. NOAA đã từng bổ sung tôm và bào ngư sau khi chương trình bắt đầu, và có đề xuất mở rộng thêm. Trước mỗi mùa hoặc khi chào hàng loài mới, nên kiểm danh sách hiện hành và hỏi khách Mỹ về các thay đổi sắp tới.
Lô thành phẩm gom tôm từ nhiều ao thì khai thế nào?
Phải cung cấp dữ liệu của mọi nguồn đóng góp vào lô, không chỉ nguồn lớn nhất. Nhà máy cần ghi phân bổ nguyên liệu theo ao vào từng lô thành phẩm. Đây là lý do phiếu nhập theo ao và sổ phân bổ trong nhà máy quan trọng.